Ổn thi HSG văn bản: LÃO HẠC của Nam Cao

Ôn thi học sinh giỏi - Tìm hiểu chi tiết

LÃO HẠC


I.                  Nội dung:
-         ”Lão Hạc” là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất viết về người nông dân của Nam Cao. Tác phẩm đã tái hiện chân thực, cảm động cuộc đời , số phận bi thảm của Lão Hạc- người nông dân hiền lành, chân chất. Nhân vật Lão Hạc để lại cho người đọc ám ảnh về số phận con người, về người nông dân trong xã hội cũ. Đồng thời, qua truyện ngắn, tác giả cũng ca ngợi tấm lòng lương thiện, phẩm chất cao đẹp của lão Hạc nói riêng và người nông dân Việt Nam nói chung với tấm lòng trân trọng, xót thương , thấm được tinh thần nhân đạo thống thiết.

-         Bên cạnh lão Hạc là ông giáo, một nhân vật trí thức nghèo nhưng tâm hồn ôm ấp nhiều giấc mộng đẹp, sống nhân hậu, đức độ và vị tha. Nhân vật này góp phần tô đậm giá trị nhân đạo của tác phẩm và mang hình bóng của nhà văn Nam Cao.
-         Truyện ngắn đã thành công trong việc kể chuyện (lựa chọn ngôi kể, người kể qua nhân vật ”ông giáo”) và miêu tả tâm lí nhân vật.
-         Ý nghĩa triết lý của tác phẩm khi tác giả để cho nhân vật ông giáo vừa kể vừa nhận xét, đánh giá, bày tỏ những suy nghĩ, đánh giá, thái độ về lão Hạc, về người vợ, về bản thân mình, về cuộc sống; qua đó làm toát lên triết lý nhân văn về con người và cuộc đời. Với nét triết lý đó, nhà văn đã khẳng định được thái độ sống, cách ứng xử nhân văn của con người từng trải: cần phải quan sát, suy nghĩ, khám phá và trân trọng những điều tốt đẹp của con người hằng ngày, xung quanh mình và nhìn nhận họ bằng tấm lòng đồng cảm, bằng sự cảm thông và quan trọng nhất là phải bằng đôi mắt của tình thương.

II.               Câu hỏi:
 Câu 1: Truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao giúp em hiểu gì về tình cảnh của người nông dân trước cách mạng?

Gợi ý:
 I. Truyện đó giúp ta hiểu về tình cảnh thống khổ của người nông dân trước cách mạng: 
          1. Lão Hạc
          a. Nỗi khổ về vật chất :
          Cả đời thắt lưng buộc bụnglão cũng chỉ có nổi trong tay một mảnh vườn và một con chó. Sự sống lay lắt cầm chừng bằng số tiền ít ỏi do bòn vườn và mà thuê. Nhưng thiên tai, tật bệnh chẳng để lão yên ổn. Bao nhiêu tiền dành dụm được, sau một trận ốm đã hết sạch sành sanh, lão đã phải kiếm ăn như một con vật . Nam Cao đã dung cảm nhìn thẳng vào nôic khổ về vật chất của người nông dân mà phản ánh.
          b. Nỗi khổ về tinh thần:
          Đó là nỗi đau cả người chồng mát vợ, người cha mất con. Những ngày tháng xa con, lão sống trong nỗi lo âu, phiền muộn vì thươn nhó con vì chưa làm tròn fbổn phận của người cha . Còn gì xót xa hơn khi tuổi già gần đất xa trời lão phải sống trong cô độc . Không người thân thích, lão phải kết bạn chia sẻ cùng cậu vàng
          Nỗi đau, niềm ân hận của lão khi bán con chó . Đau đớn đến mức miệng lão méo xệch đi .... Khổ sở, đau xót buộc lão phải tìm đến cái chết như một sự giải thoát . Lão đã chọn cái chết thật dữ dội . Lão Hạc sống thì mỏi mòn, cầm chừng qua ngày, chết thì thê thảm. Cuộc đời người nông dân như lão Hác đã không có lối thoát
2. Con trai lão Hạc
Vì nghèo đói, không có được hạnh phúc bình dị như mình mong muốn khiến anh phẫn chí, bỏ làng đi đồn điền cao su với một giấc mộng viển vông có bạc trăm mới về. Nghèo đói đã đẩy anh vào tấn bi kịch không có lối thoát.
          Không chỉ giúp ta hiểu được nỗi đau trực tiếp của người nông dân. Truyện còn giúp ta hiểu được căn nguyên sâu xa nỗi đau của họ. Đó chính là sự nghèo đói và những hủ tục phong kiến lạc hậu.

II. Truyện ngắn Lão Hạc giúp ta hiểu được vẻ đẹp tâm hồn cao quý của người nông dân:
          1. Lòng nhân hậu:
          Con đi xa, bao tình cảm chất chứa trong lòng lão dành cả cho cậu vàng. Lão coi nó như con, cưu mang, chăm chút như một đứa cháu nội bé bỏng côi cút : lão bắt rận, tắm , cho nó ăn bàng bát như nhà giầu, âu yếm, trò chuyện gọi nó là cậu vàng, rồi lão mng yêu, cưng nựng . Có thể nói tình cảm của lão dành cho nó như tình cảm của người cha đối với người con.
          Nhưng tình thế đường cùng, buộc lão phải bán cậu vàng. Bán chó là một chuyện thường tình thế mà với lão lại là cả một quá trình đắn đo do dự. Lão cói đó là một sự lừa gạt, một tội tình không thể tha thứ. Lão đã đau đớn, đã khóc, đã xưng tội với ông giáo , mong được dịu bớy nỗi dằng xé trong tâm can.
          Tự huỷ diệt niềm vui của chính mình, nhưng lại xám hối vì danh dự lam người khi đối diện trước con vật . Lão đã tự vẫn . Trên đời có bao nhiêu cái chết nhẹ nhàng, vậy mà lão chọn cho mình cái chết thật đau đớn, vật vã...dường như lão muốn tự trừng phạt mình trước con chó yêu dấu.
2. Tình yêu thương sâu nặng
Vợ mất, lão ở vậy nuôi con, bao nhiêu tình thương lão đều dành cho con trai lão . Trước tình cảnh và nỗi đau của con, lão luôn là người thấu hiểu tìm cách chia sẻ, tìm lời lẽ an ủi giảng dải cho con hiểu dằn lòng tìm đám khac. Thương con lão càng đauđớn xót xa khi nhận ra sự thực phũ phàng : Sẽ mất con vĩnh viễn “Thẻ của nó .............chứ đâu có còn là con tôi ”. Nhữn ngày sống xa con, lão không nguôi nỗi nhó thương, niềm mong mỏi tin con từ cuối phương trời . Mặc dù anh con trai đi biền biệt năm sáu năm trời, nhưng mọi kỷ niệm về con vẫn luôn thường trực ở trong lão. Trong câu chuyện với ông giáo , lão không quyên nhắc tới đứa con trai của mình
Lão sống vì con, chết cũng vì con : Bao nhiêu tiền bòn được lão đều dành dụm cho con. Đói khat, cơ cực song lão vẫn giư mảnh vườn đến cùng cho con trai để lo cho tương lai của con.
Hoàn cảnh cùng cực, buộc lão phải đứng trước sự lựa chọn nghiệt ngã : Nếu sống, lão sẽ lỗi đạo làm cha. Còn muốn trọn đạo làm cha thi phải chết . Và lão đã quyên sinh không phải lão không quý mạng sông, mà vì danh dự làm người, danh dự làm cha. Sự hy sinh của lão quá âm thầm, lớn lao.
3. Vẻ đẹp của lòng tự trọng và nhân cách cao cả
Đối với ông giáo người mà Lão Hạc tin tưởng quý trọng , cung luôn giữ ý để khỏi bị coi thường . Dù đói khát cơ cực, nhưng lão dứt khoát từ hối sự giúp đỡ của ông giáo , rồi ông cố xa dần vì không muốn mang tiếng lợi dụng lòng tốt của người khác . Trước khi tìm đến cái chết, lão đã toan tính sắp đặt cho mình chu đáo. Lão chỉ có thể yên lòng nhắm mắt khi đã gửi ông giáo giữ trọn mảnh vườn, và tiền làm ma. Con người hiền hậu ấy, cũng là con người giầu lòng tự trọng. Họ thà chết chứ quyết không làm bậy. Trong xã hội đầy rẫy nhơ nhuốc thì tự ý thức cao về nhân phẩm như lão Hạc quả là điều đáng trọng

III.             Truyện giúp ta hiểu sự tha hoá biến chát của một bộ phận tầng lớp nông dân trong xã hội đương thời :
Binh Tư vì miếng ăn mà sinh ra làm liều bản chất lưu manh đã chiến thắng nhân cách trong sạch của con người . Vợ ông giáo vì nghèo đói cùng quấn mà sinh ra ích kỷ nhỏ nhen, tàn nhẫn, vô cảm trước nỗi đau của người khác .

Câu 2: Phân tích cách nhìn người nông dân của Nam Cao qua truyện ngắn “Lão Hạc”?
Gợi ý:
1.Xuất phát từ quan điểm “Nghệ thuật vị nhân sinh”:
Cách nhìn của nhà văn là cách nhìn của một con người luôn thấu hiểu , đồng cảm với nỗi đau khổ của người khác . Nhà văn luôn thấu hiểu nỗi khổ về vật chất và tinh thầnh của người nông dân. Là người sống gần gũi , gắn bó với người nông dân Nam Cao đã nhìn sâu hơn vào nỗi đau tinh thần của nhà văn.

1.     Bằng cái nhìn yêu thương trân trọng, Nam Cao đã nhận ra vẻ đẹp tâm hồn đáng quý của lão Hạc trong cuộc sống không phải dành cho con người:

          a. Nhà văn nhận thấy từ thẳm sâu tâm hồn lão Hạc tấm lòng nhân hậu thật đáng quý:
- Nam Cao đã nhận ra tình cảm thân thiết máu thịt của con người dành cho con người
- Nam Cao còn phát hiện ra nỗi ân hận cao thượng và đức tính trung thực của Lão Hạc qua việc bán con chó
- Nhà văn càn nhận thấy ở người cha còm cõi xơ xác như lão Hạc tình yêu thương con sâu nặng
b. Với phương cham “cố tìm mà hiểu”, Nam Cao đã phát hiện ra đằng sau vẻ ngoài xấu xí, gàn dở của Lão Hạc là lòng tự trọng và nhân cách trong sạch của lão:
Mở rộng: Có thể so sánh cách nhìn trân trọng đối với người nông dân của Nam Cao và cách nhìn có phần miệt thị, khinh bỉ người nông dân của Vũ Trọng Phụng . Trong tiểu thuyết Vỡ đê, Vũ Trọng Phụng tả người nông dan như những con người không có ý thức không cảm xúc, coi họ như những bọn người xấu xa, đểu cáng . Thấy được cái nhìn của Nam Cao là cái nhìn tiến bộ và nhân dạo sâu sắc.
3. Là cách nhìn có chiều sau tràn đầy lạc quan tin tưởng.
Nam Cao nhìn người nông dân không phải bằng thứ tình cảm dửng dưng của kẻ trên hướng xuống dưới, càng không phải là hời hợt phiến diện. Nam Cao luôn đào sâu, tìm tòi khám phá những ẩn khuất trong tâm hồn của lão Hạc , từ đó phát hiện ra nét đẹp đáng quý : Đó là cái nhìn đầy lạc quan tin twongr vào phẩm hạnh tốt đẹp của người nông dân. Trước cách mạng, không ít nhân vật của Nam cao đều bị hoàn cảnh khuất phục, làm thay đổi nhân hình lẫn nhân tính. Vậy mà kì diệu thay hoàn cảnh khắc nghiệt đã không khiến một lão Hạc lương thiện thay đổi được bản tính tốt đẹp .....Lão đã bảo toàn nhân cách cao cả của mình để tìm đến cái chết : “Không cuộc đời chưa hẳn đã đang buồn.........” thể hiện niềm tin của nhà văn  vào nhân cách vào sự tồn tại kiên cường vào cái tốt 

Câu 3: “Đọc mỗi tác phẩm văn chương, sau mỗi trang sách, ta đọc được cả nỗi niềm băn khoăn trăn trở của tác giả về số phận con ngươi.” Dựa vào những hiểu biết về “Lão Hạc”- Nam Cao và “Cô bé bán diêm”- Andecxen, hãy làm sáng tỏ ý kiến.

Gợi ý:
1. Những băn khoăn trăn trở của Nam Cao về số phậnnhững người nông dân qua truyện ngắn Lão Hạc:
Những lo lắng trăn trở của Nam Cao thể hiện qua nhân vật Lão Hạc: Lão là người sống lương thiện trụng thực, có nhân cách đáng quý nhưng cuộc đời lại nghèo khổ bất hạnh . Sống thì mỏi mòn cơ cực , chết thì đau đớn thê thảm . Đây là những băn khoăn trăn trở của Nam Caođược thể hiện qua những triết lý chua chát của lão Hạc về kiếp người “khiếp......chẳng hạn” và qua những triết lý của ông giáo: “Cuộc dời cứ .................buồn theo một nghĩa khác” . Ôi cuộc đời này hình như không còn chỗ đứng cho những con người trung thực , lương thiện như lão Hạc. Đó là điều khiến Nam Cao vô cùng day dứt.
Những băn khoăn trăn trở của Nam Cao về những tấn bi kịch không có lối thoát của tầng lớp thanh niên nông thôn lúc bấy giờ , điển hình là anh con trai lão Hạc. Cuộc sống cùng quẫn, nghèo đói khiến anh không có nổi hạnh phúc bình gị như mình mong muốn ...bỏ đi đồn điền cao su với suy nghĩ viển vông : “Có bạc trăm mới về”
2. Những băn khoăn trăn trở của Nam Cao về số phận người trí thức trong xã hội đương thời:
          Ông giáo là người có nhiều chữ nghĩa, giàu ước mơ khát vọng cao đẹp có nhân cách đáng quý song lại sống trong cảnh nghèo dói. Từ Sài Gòn trở về quê hương, cả gia tài của ông chỉ có một va ly đựng toàn sách cũ ...ông đã bán dần những quyển sách mà ông vẫn nân niu quý trọng . Đây là nỗi đu khổ đối với ngươi trí thức bởi sách là một phần của đời ông . Vậy mà giờ đây vấn đề miếng cơm manh áo đã dập tắt những ước vọng trong sáng  đẩy ông vào thảm cảnh “Sống mòn ” không có lối thoát. Qua tấn bi kịch của ông giáo Nam Cao không khỏi day dứt về số phận người tri thức trog xã hội đương thời. Họ mang trong mình ước mơ hoài bão cao đẹp và kháy vọng nghề nghiệp .
          Tóm lại thông qua số phận người nông dân, người trí thức, Nam Cao muốn cất lên tiếng kiêu cứu .......

3. Những băn khoăn của An- đéc xen về số phận trẻ em nghèo:
          Một cô bé nhỏ xinh ngoan ngoãn đáng được sống đầy đủ lại phải chịu nhiều bất hạnh trái ngang
          Từ khi gia đình tiêu tán gia đình em phải sống chui rúc trong xó tối tăm. Cô phải bàn diêm để kiếm sống . Em bị bỏ đói, rét ... đầu trần chân đi đất cứ lang thang trong đêm tối . Rét buốt đã khiến đôi bnf tay em cứng đờ ra , chân bầm tím. Em thiếu sự quan tâm tình thương của gia đình và xã hội
          Bà nội và mẹ cô những người thương yêu em thì đã lần lượt ra đi. Chỗ dựa tinh thần cuối cùng của em là người cha, nhưng cha lại lạnh lùng tàn nhẫn, khiến em luôn sống trong sợ hãi không muốn về nhà
          Người đời thì lạnh lùng nhẫn tâm, vô cảm trước tình cảnh của em, không ai đoái hoài đến lời chào của cô...người ta còn diễu cợt trên nôi đau của em. Nhà văn day dứt trước cái chết của cô bé nhà văn đã cổ tích hóa sựra đi của em trong thanh thản, mãn nguyện.